QUAN PHƯƠNG THẬP DỤ

Phương là gì? Phương gồm có bản phương ngay tại cung mệnh. Đối phương là cung Thiên di (đối xung). Hợp phương là cung Tam hợp. Lân phương là hai cung giáp Mệnh. Cổ nhân đưa ra mười phương pháp:

1.  Bản phương tốt đẹp như sức lực tự mình (Do nội lực cường)

2.  Đối phương tốt đẹp như ví như được gió xuân thổi tới (Nghinh diện xuân phong)

3.  Hợp phương tốt đẹp ví như những nguồn giúp đỡ kèm bên (Tả Hữu phùng nguyên)

4.  Lân phương tốt đẹp ví như có phe cánh trợ lực (Lưỡng lân tương phù)

5.  Cung lẫn phương đều tốt đẹp ví như cả ngàn mau mắn chầu về (Thiên tường vân tụ)

6.  Bản phương hung xấu như rễ đã bị cắt (Tòng căn tự phạt)

7.  Đối phương xấu hung ví như giơ đầu chịu búa (Đương đầu ác bổng)

8.  Hợp phương xấu hung ví như bị đánh hai mặt (Tả Hữu thụ địch)

9.  Lân phương xấu hung giống như nhiều phe thù ghét (Luỗng lân tương vũ)

10. Phương, cung đều hung xấu ví như khắp nơi bị công hãm (Tứ diện sở ca)

Quan Phương Thập Dụ cổ nhân muốn nói đến nguyên tắc căn bản để cân đo luận đoán một lá số. Rồi người xưa lại đặt bài thơ như sau:

Cát hung tối yêu tế phân minh
Bản đối hợp lân hữu trọng khinh
Tứ diện Sở ca chung tất bại
Thiên tường vân tập tự nhiên hanh
Tự cường tài thị hảo nhân gia
Lân sá duy cung cẩm thượng hoa
Nhược đáo phùng nguyên chân cảnh địa
Xuân phong chỉ khả cảm tương sai
Lưỡng lân tương vũ khởi vi tai
Tự phạt tài giao đại khả ai
Dị đóa đương đầu nhất côn bổng
Nam phùng Tả Hữu tạp binh lai

Ý bài thơ nói rằng: Khi vào thế Tứ diện Sở ca thì thế nào cũng thất bại. Số mà Thiên tường vân tập sớm muộn gì cũng thành công. Sức mạnh của lá số chủ yếu là tự cường (Mệnh cung đầy đủ lực lượng) trước đã, hợp phương có tốt chỉ là gấm thêm hoa. Những sao chiếu theo tam hợp và đối phương là những sức phò trợ đáng kể. Nhưng sức phò trợ ấy mà gặp mệnh bị mất rễ cũng vô ích. Các cung giáp mệnh dù cho xấu chăng nữa mà mệnh có nội lực tự cường thì chẳng sao. Nhược bằng mệnh ở tình trạng “Tòng căn tự phạt” thì dù có tránh được búc thì rồi cũng bị tràn ngập bị vây hãm hủy diệt mà thôi.

Quan Phương Thập Dụ đặt trọng tâm luận đoán vào Mệnh cung. Trước nhất mệnh phải mạnh đã. Mệnh yếu dù các phương khác có hay cũng chỉ bình thường. Như vậy câu: Mệnh hảo bất như Thân hảo, Thân hảo bất như Vận hảo không toàn hoàn chính xác.

Nếu mệnh xấu mà vận có thật tốt chăng nữa, mọi sự thành công cũng chỉ là hư hoa. Không ai Mệnh xấu, vận hay mà gây được cơ nghiệp đáng kể bao giờ.

Mệnh cung tự cường, mới hưởng được cái tốt của Quan Lộc, Tài bạch. Chuyển sang vận thì vận chỉ tốt khi cung Đại vận có nội lực tự cường đã rồi mới tính đến tam hợp, hay đối phương hoặc lân phương. Tỉ dị vận đến cung có Cự Đồng, dù tam phương hay xung chiếu được Khoa Quyền Lộc cũng không hay bao nhiêu.

Đến như quan hệ Mệnh với Thân, cũng vẫn tiếp tục phải kể mệnh làm chủ yếu. Mệnh mà tòng căn tự phạt thì dù Thân có Thiên tường vân tập cũng chẳng nên công trạng to tát.

Những cách cục

Cách cổ nhân chia làm hai loại: hợp và bất hợp (hay – dỡ).

Hợp cách gồm có:

Cự ưởng ly minh – Tử vi đóng Ngọ cung có Tả Hữu và không bị sát tinh.

Tử Phủ đồng độ - Tử Vi Thiên Phủ tại Dần Thân không hung sát tinh hay Tuần Triệt.

Tử Vi triều viên, Tử Vi Thiên Phủ đắc địa chiếu mệnh.

Vũ Tham đồng độ - Vũ Khúc Tham Lang đồng cung hoặc một thủ, một chiếu. Cách này cần được Linh hay Hỏa mới hay.

Tướng tinh đắc địa – Vũ Khúc tại miếu vượng thủ mệnh.

Phủ Tướng triều viên – Thiên Phủ, Thiên Tướng đắc địa chiếu mệnh.

Cơ Lương gia hội – Cơ Lương Thìn Tuất gặp Lộc Khoa hay Lộc Quyền hay song Lộc.

Nhật chiếu Lôi môn – Thái Dương tại Mão thủ Mệnh mà sinh ban ngày.

Cơ Cự đồng lâm – Thiên Cơ Ngọ hay Tý Cự Môn xung chiếu hoặc Thiên Cơ Cự Môn đồng cung Mão Dậu.

Nguyệt lãng Thiên môn – Thái Âm thủ mệnh tại Hợi mà sinh ban đêm.

Nhật Nguyệt đồng minh – Mệnh Sửu Mùi Âm Dương Hợi Mão hoặc Tị Dậu.

Tam hợp Hóa Tham – Tham Lang đắc địa tam hợp gặp Hỏa hay Linh Tinh.

Thạch trung ẩn ngọc – Cự Môn Tý Ngọ không bị hung sát tinh.

Hóa tinh ngộ quý – Tứ Hóa hợp với sao thủ mệnh như Thiên Đồng tại Tuất mà tuổi Đinh – Cự Môn đóng Thìn mà tuổi Tân.

Thọ tinh nhập miếu – Thiên Lương đóng Ngọ không sát hung.

Thất Sát triều đẩu – Thất Sát đóng cung Thân hay Dần.

Anh tinh nhập miếu – Phá Quân thủ mệnh tại Tý Ngọ.

Văn Lương chấn kỷ - Thiên Lương Văn Khúc thủ mệnh tại vượng địa.

Văn tinh ám củng – Xương Khúc thủ mệnh hay chiếu mệnh.

Tả Hữu đồng lâm – Tả phụ Hữu Bật đồng cung tại mệnh.

Tam kỳ gia hội – Hội tụ vào Mệnh cung đủ bộ Khoa Quyền Lộc tức là tam hợp chiếu.

Tả Hữu Khoa viên – Mệnh Tả Hữu đứng bên Hóa Khoa hoặc Khoa chiếu.

Thiên Ất củng mệnh – Mệnh Khôi Việt thủ chiếu.

Văn quế Văn hoa – Mệnh Sửu Mùi gặp Xương Khúc đồng cung.

Lộc hợp uyên ương – Mệnh có song Lộc thủ hoặc thủ chiếu.

Song Lộc triều viên – Hai sao Lộc chiếu về mệnh.

Nhị diệu đồng lâm – Mệnh ở Mùi có Nhật Nguyệt từ Sửu chiếu hoặc mệnh đóng Sửu có Nhật Nguyệt từ Mùi chiếu.

Đan trì quế trì – Mệnh Thái dương ở Thìn Tị, Thái Âm Dậu Tuất xung chiếu.

Quyền lộc tuần phùng – Quyền Lộc thủ mệnh.

Giáp đệ đăng dung – Hóa Khoa thủ mệnh với các cát tinh khác.

Khoa danh hội Lộc – Hóa Khoa Hóa Lộc chiếu mệnh.

Phụ củng văn tinh – Văn Xương mệnh có Tả Hữu chiếu.

Quyền Sát Hóa Lộc cách – Kình Đà đắc địa, Linh Hỏa đắc địa đứng với Hóa Lộc.

Bất hợp cách gồm có:

Cực cư Mão vị - Tử Vi Tham Lang ở cung Mão.

Mệnh Vô chính diệu.

Cự phùng Tứ sát – Cự Môn hãm gặp Dương Đà Linh Hỏa. Kể cả Cự Môn đắc địa cũng không tốt.

Văn tinh ngộ hiệp – Mệnh Xương Khúc bị Không Kiếp.

Mệnh võng Tị Hợi – Thiên Cơ thủ mệnh tại Tị hay Hợi mà đứng cùng hung sát tinh.

Khoa tinh phùng phá – Mệnh Hóa Khoa nhưng lại thấy Không Kiếp Kình Đà Linh Hỏa hãm xung phá.

Những cách cục trên đây, cổ nhân chỉ nói cung Mệnh thôi. Vậy thì mệnh cung vẫn là chủ yếu cho việc luận đoán lá số. Cũng như khoa Tử Bình, Can Chi của ngày sinh được xem là trọng tâm cho sự xoay chuyển ngũ hành từ Năm Tháng Giờ.

Qua những cách cục trên, ta thấy một vài điều không ổn sau đây:

Cách mệnh Vô chính diệu bị liệt vào hàng bất hợp cách, theo kinh nghiệm mệnh Vô chính diệu là một cách hợp còn là cách tốt tùy thuộc phụ tinh nào đứng đó. Tỉ dụ Kình dương độc thủ hay Đà la độc thủ hoặc Linh Hỏa đắc địa độc thủ, đâu phải là cách dở hay bất hợp cách.

Về cách Phủ Tướng triều viên không nói rõ ràng, vì Phủ Tướng đứng một mình thường chầu vào mệnh vô chính diệu. Phủ Tướng triều viên đây hẳn là Phủ đứng với Liêm và Tướng đứng với Vũ Khúc.

Phủ Tướng đơn độc chầu mệnh chỉ là cách bình thường không đáng kể, tốt với nữ mạng hơn nam mạng. Phủ Tướng đứng riêng chầu mệnh thì đương nhiên cung Thiên di là Vũ Tham ở Mùi hay Sửu nếu có hay là do Vũ Tham có Hỏa Linh đi kèm.

Sự liên hệ của thập nhị cung

Lá số có mười hai cung, Mệnh rồi Bào rồi Thê… rồi Phúc đức và Phụ mẫu. Tuy chia cách biệt ra nhưng chúng lại có liên hệ khi luận đoán số.

Người ta có thể tìm thấy ở mệnh cung sự thay vợ đổi chồng hay góa bụa nhưng những điều này cũng tìm thấy ở cả Thê cung nữa. Tỉ dụ người nữ Thiên Lương tại mệnh ở Hợi hay Tị mà gặp Thiên Mã dễ bỏ chồng. Những sao ấy chuyển qua cung Thê tình trạng tương tự.

Câu phú:

Thiên Lương ngộ Mã chẳng bàn

Có chồng lại bỏ theo làng bướm hoa

Khả dĩ áp dụng cho cả hai cung. Tuy nhiên, nếu chúng đóng mệnh thì phiền phức hơn là đóng Phối cung. Tỉ dụ câu Thất Sát đan cư Phúc đức (Sao Thất Sát hãm đóng cung Phúc đức) cũng ảnh hưởng đến thân phận người ta đưa đến lận đận chồng con.

Tỉ dụ, cung Điền trạch có thể cho ta được những đoán định rằng con người mang số với cung Điền ấy phải bỏ nhà đi sớm không cứ phải qua mệnh cung mới đoán ra điều này.

Tỉ dụ cung Phụ mẫu mà có Đào Hoa Cự Kị thì bố mẹ bất thuận chia tay. Nhưng nếu Đào Hoa Cự Kị tại Mệnh cũng có thể đoán như vậy, hoặc cho thấy mình là con tư sinh, hoặc chính mình đã bỏ vợ.

Ngoài ra, cũng có thể tìm thấy ở cung Phúc tính tình đầu óc thân phận không nhất định cứ phải Mệnh cung mới thấy, tuy nhiên vẫn đừng nên quên Mệnh vẫn là cái gốc để suy đoán cùng với Phúc đức cung.

Nói chuyện ngũ hành sinh khắc chế hóa

Ngũ hành đặt trên hai cơ sở lý luận. Đơn giản chỉ có sinh khắc. Phức tạp ngoài sinh khắc phải có chế hóa. Đơn giản là logique. Phức tạp thành biện chứng (dialectique).

Tử vi khoa có sinh khắc chế hóa. Nhưng kho Tử Bình thì sinh khắc chế hóa linh động biến dịch hơn. Đơn giản sinh khắc là:

- Kim sinh Thủy – Thủy sinh Mộc – Mộc sinh Hỏa – Hỏa sinh Thổ - Thổ sinh Kim.

- Kim khắc Mộc - Mộc khắc Thổ - Thổ khắc Thủy – Thủy khắc Hỏa – Hỏa khắc Kim.

Có câu phú viết: “Tinh lâm miếu vượng tái quan sinh khắc chi cơ” nghĩa là dù sao an được vào cung miếu vượng thì cũng còn phải xem cái lý của sinh khắc nữa. Tỉ dụ Kim nhập Hỏa hương sao thuộc Kim đứng cung Hỏa bị khắc không tốt, hoặc Hỏa nhập Thủy hương sao thuộc Hỏa đứng vào cung Thủy…

Một câu phú khác: “Tuyệt sứ phùng sinh, hoa nhi bất bại” nghĩa là ở tuyệt địa mà gặp sinh thì không đến mức hoàn toàn thất bại. Tuyệt sứ phùng sinh là thế nào ?

Như Thủy cục tuyệt ở Tỵ cung, nếu an Mệnh ở Tỵ là tuyệt địa, nhưng lại có Kim tinh ở đó, Kinh sanh Thủy thành ra Thủy không bị tuyệt.

Tỉ dụ hai sao Thiên Cơ Cự Môn của cách Cự Cơ Mão hay Dậu, thì Cự Cơ ở Mão tốt hơn ở Dậu vì lẽ Thiên Cơ thuộc Mộc đứng cung Mộc lại có Cự Môn là Thủy nuôi dưỡng, trong khi cung Dậu thuộc Kim khắc Mộc Thiên Cơ, Cự Môn không đắc lực với sứ mạng nuôi dưỡng bằng ở cung Mão.

Cũng sao Liêm Trinh đứng Dần tốt hơn đứng Thân vì Liêm Trinh thuộc Hỏa cung Dần Mộc sinh Hỏa, trong khi Thân là Kim, Kim với Hỏa tương khắc.

Tác dụng của ngũ hành là vận động biến dịch và phát triển. Nếu chỉ đơn giản. Nếu chỉ đơn giản, e tác dụng kia vừa đủ. Ngũ hành trong khoa Bát tự với vận động biến dịch biện chứng kỹ càng hơn ngũ hành logique của Tử vi.

Sách Uyên Hải Tử Bình viết: “Kim vượng được Hỏa mới thành dụng cụ như sắt đưa vào lửa luyện nên thép. Thủy vượng được Hỏa thành hơi nước mạnh. Thủy vượng nhờ Thổ mà nên hồ ao. Thổ vượng đắc Mộc thì mới nên thì Thổ mới có chổ bám…”

Như vậy, đôi khi khắc lại mang tác dụng rất cần thiết chứ không phải sinh hay mà khắc dỡ. Ngũ hành của Tử vi khoa là ngũ hành đơn giản của sinh khắc.

Sách Uyên Hải Tử Bình viết: “Kim nhờ Thổ sinh, nhưng nhiều đất quá thì Kim bị chôn vùi. Thổ nhờ Mộc sinh, nhưng Mộc nhiều quá lửa bị tắc nghẽn, Mộc nhờ Thủy sinh, nhưng nước lụt thành cây trôi. Thủy nhờ Kim sinh, nhưng Kim nhiều quá, nước thành vẩn đục. Kim sinh ra Thủy, nhưng Thủy nhiều Kim chìm. Thủy sinh ra Mộc, Mộc nhiều Thủy cạn. Mộc sinh ra Hỏa, Hỏa nhiều Mộc bị cháy tiêu…”

Như vậy, kể cả tình trạng “sinh” nếu theo biện chứng chưa chắc đã là tốt. Lối tính của Tử vi khoa về ngũ hành, chỉ đơn giản thôi vì cổ nhân đặt định trên căn bản lý luận không phức tạp biện chứng.

Gửi bình luận

Đối tác của Đại Hưng

ftrFeatured
TAM NGUYÊN  bằng các biện pháp phong thủy của mình đã giúp hàng nghìn người có cuộc sống hạnh phúc
 
 
Dayhocthilaixeotob2Dạy học thi lái xe oto B2vietskybookinglamwebseo