PHONG TỤC VIỆT NAM đề cập đến nền văn minh nước Việt. Tác giả là Phan Kế Bính, là một học giả uyên bác, sống từ cuối thế kỷ thứ 19 qua những năm đầu thế kỷ thứ 20. Qua những đoạn ngắn, súc tích, tác giả đã đề cập khá đầy đủ vê phong tục trong gia tộc, thôn xóm, trong xã hội.  Trước khi muốn gìn giữ hoặc đả phá, một thói quen, ông cố trình bày cặn kẽ cho người đọc am tường, sau đó ông đưa ý kiến riêng, không phải là vô trách nhiệm, công kích chỉ vì chưa hiểu cặn kẽ sự thật. Sự góp ý của ông rất chân thành, khác với phong cách ăn nói đao to búa lớn của kẻ chạy theo thời trang, công kích để mà công kích, cho thiên hạ thấy ta là người tiến bộ. PHONG TỤC VIỆT NAM là tư liệu cần thiết để “suy cổ nghiệm kim”. Mong rằng khi xếp sách lại, người đọc sẽ thấy toát lên yêu thiên nhiên, tình đoàn kết giữa người trong một nước. Muốn cho một nếp suy nghĩ trở thành phong tục, phải kinh qua thời gian dài. Và muốn đả phá một tục lệ hủ lậu, củng phải kiên trì, cương quyết. Quả thật Phan Kế Bính là một nho sĩ không chịu đứng về phía bảo thủ. 

 

Bách hý là các trò vui, mỗi trò đều có treo giải thưởng, giải treo nhiều ít tùy từng làng, nhưng giải nào cũng có phân làm hai, ba hạng. Giải thưởng hoặc tiền hoặc nhiễu, hoặc quạt tàu, chè tàu v.v... Hạng nhất thì được giải to, hạng kém thì được giải nhỏ, còn kém nữa thì gọi là giải hàng. Các trò thì nơi dùng trò này, nơi dùng trò khác, nhưng đại khái các trò chơi như sau này:

1.Hát bội

Hát bội có rạp, hoặc bắc giàn dưới gốc cây to; hoặc hát tại nơi đình điếm. Phường hát bội độ chừng mười một, mười hai người, một vài anh đánh trống đánh phách, một vài anh vẽ hề đóng tướng, cũng dùng điển này tích nọ ra trò, mà nhất là hay pha tán nhảm, làm cho thiên hạ nực cười, ở ngoài có một người viên chức cầm trống chầu, hễ hát câu nào hay hoặc pha câu nào vui thì cắc một tiếng. Phường nào hát giỏi được thưởng nhiều, phường nào hát dở được thưởng ít, có khi hát khoán cứ mỗi buổi tối là mấy đồng bạc gì đó.

2.Hát tuồng

Hát tuồng hát bội chỉ khác nhau là hát tuồng thì hát một cách nghiêm chỉnh, người nhiều đồ tốt ít tán nhảm, thường dùng những điển tích đánh nhau như điển: Tam quốc, Bình đông, Bình Tây …

3.Trò quỷ thuật

Quỷ thuật có nhiều cách làm cho kinh nhân nhĩ mục. Ví như một chậu nước không, bọn ấy phù chú một lúc, rồi thả câu vào giật lên được cá. Lại như một cái chén không, họ trùm mảnh vải lên cái chén ấy một lúc mở ra có đầy chén rượu. Lại như họ úp một cái bu không, trùm vải kín, phù chú một lúc, mở ra thành đầy một bu chim. Lại như họ leo dây múa rối, dùng một sợi dây to buộc trên lưng chừng hai cái cột tre, căng đầu nọ đến đầu kia, dài độ mười thước rồi một người tay cầm cái sào đi trên sợi dây ấy, vừa đi vừa múa, miệng thì hát, có khi vừa đi vừa tung ba con dao, hoặc ba quả lăn. Đại để thuật này này thuật Tả Từ đời Tam quốc.

4.Trò dưới nước

Bắc rạp dưới nước, phường hát ngồi trong rạp trống phách hát hỏng, một người đứng dưới nước cầm máy, làm cho các người gỗ đi chạy trên mặt nước, hoặc đánh nhau, hoặc làm hai con rồng chọi nhau, hoặc làm ông Lã Vọng câu cá, có cá nhảy ra đớp mồi, giật lên được cá.

5.Hát quan họ

Hát quan họ là một bên trai một bên gái, hát đối đáp với nhau, như kiểu hát trống quân, tục này ở vùng Bắc Ninh hay có.

6.Bắt bài

Mười hai hoặc mười tám, hai mươi bốn ả đầu mỗi đứa mặc một mùi áo, hoặc xanh hoặc đỏ, đầu đội mũ cài trâm, thắt lưng ra ngoài, mỗi vai cầm một cái đèn bóng, tay múa miệng hát, lượn đi lượn lại, có dịp, có dàng.

7.Múa bông

Phường múa bông có nhiều cấp: Một cấp là đầu họ đội chếch một cái đèn, nhảy lên nhảy xuống, khi nghiêng khi ngả, tay thì múa miệng thì hát mà đèn vẫn không đổ được. Một cấp là họ dùng một cái chai để nằm ngang trên đầu cái que, trên cái chai lại để một cái trứng gà, rồi họ chông cái que ấy lên mũi mà múa, mà chai và trứng gà không đổ. Một cấp nữa là họ để úp một cái đĩa lên đầu cái que, rồi họ quay cho cái đĩa cứ xoay tròn trên đầu que, thỉnh thoảng tung lên tung xuống mà đĩa không đổ. Một cách nữa là miệng họ ngậm một cái chân bàn (bàn viết nhỏ của ta) để hơi chếch ngược một góc, rồi hai tay họ cắp nách, lượn đi lượn lại được. Trò ấy ở Nam Kỳ thường có.

8.Tổ tôm điếm

Làm một cái rạp thực rộng, trong rạp năm góc có năm điếm, ở khoảng giữa là chỗ chia bài, có giá cầm bài nọc. Mỗi điếm cũng có một cái giá cầm bài. Một người hoặc hai ba người chung nhau một điểm, đánh to đánh nhỏ, tùy hẹn ước với nhau. Đánh bài có trông có đồng la làm hiệu, có đầy tớ chạy bài, ăn cây bài, hoặc dậy khàn, dậy thiên khai, hoặc ù, đều có hiệu trông riêng, ví như ăn thì đánh một tiếng, phỗng thì đánh luôn hai tiếng, dậy khàn thì đánh ba tiếng, dậy thiên khai thì đánh bốn tiếng, ù thì đánh luôn một hồi, không ăn thì đánh một tiếng đồng la, còn xem chưa chắc rằng ăn hoặc ù hoặc phỗng hay không thì đánh một tiếng tùng một tiếng cắc v.v... Hễ đánh sai tiếng trống thì dù ù cũng không được ăn tiền, mà còn nhiều khi phải đền. Ai ù được luôn ba ván đầu gọi là liên tam tiệp hoặc ai ù được chi chi, bạch định, thập hồng thì làng có giải thưởng. Người được giải thì đốt pháo ăn mừng.

9.Bài phu điếm - Bài phu cững có rạp như tổ tôm điếm, nhưng chỉ có bôn điếm mà thôi. Cách đánh cũng lấy tiếng trông tiếng đồng ra làm hiệu, ai đổ lớn cũng có giải thưởng nhưng không vui bằng tổ tôm.

10.Cờ người

Cờ người mỗi bên có mười sáu quân là mỗi bên có một tướng, hai sĩ, hai tượng, hai xe, hai pháo, hai mã, năm tốt, bàn cờ vẽ giữa sân đình, hai bên có hai cái rạp để chỗ cai cờ ngồi. Trước mặt cai cờ dàn bày rất nghiêm chỉnh. Mỗi nước cờ có một cái ghế để cho tướng cờ và quân cờ ngồi. Tướng và quân, bên trai bên gái mỗi bên mười sáu người, cất toàn trạc mười hai, mười ba tuổi cho chí mười tám, hai mươi tuổi là cùng. Bên cờ trai mặc toàn một sắc áo, bên cờ gái cũng mặc toàn một sắc áo, ai vào quân gì phải cầm một cái biển quân cờ ấy, cái cờ sắp thành hàng rồi thì để cho thiên hạ vào đánh. Ai muốn đánh cờ, trước phải khảo chịch, hễ cao cờ mới được vào đánh. Trước khi đánh, mỗi bên mỗi người cầm lá cờ nhỏ vào lễ thần, rồi trở ra mới đánh. Ai đi nưốc nào thì phất ngọn cờ mà chỉ vào con cờ, con cờ phải theo ngọn cờ mà đi. Mỗi bên có một vài đứa nhỏ cầm trôhg cầm đồng la để giục người đánh cờ, hễ ai chậm đi thì chúng nó khua trông khua đồng la vào mang tai cho rối trí lại. Phía trong có dân làng cầm chịch, ai đi nhầm một nước cũng là thua. Ai đánh được thì được giải thưởng, ai thua thì có kèn trông rước ra, nghĩa là làm cho sỉ nhục, coi như đưa. ma người chết vậy. Hôm cuối cùng là hôm phá giải cờ, ai giữ được giải đến hôm ấy thì có thưởng to. Thiên hạ lắm kẻ vì đánh cờ thua xấu hô sinh thù, cho nên có làng ai được cờ thì phải cho tuần đưa về đến tận nhà.

(Trích PHONG TỤC VIỆT NAM - PHAN KẾ BÍNH)

 Thầy Phong Thủy

Gửi bình luận

Đối tác của Đại Hưng

ftrFeatured
TAM NGUYÊN  bằng các biện pháp phong thủy của mình đã giúp hàng nghìn người có cuộc sống hạnh phúc
 
 
Dayhocthilaixeotob2Dạy học thi lái xe oto B2vietskybookinglamwebseo