PHONG TỤC VIỆT NAM đề cập đến nền văn minh nước Việt. Tác giả là Phan Kế Bính, là một học giả uyên bác, sống từ cuối thế kỷ thứ 19 qua những năm đầu thế kỷ thứ 20. Qua những đoạn ngắn, súc tích, tác giả đã đề cập khá đầy đủ vê phong tục trong gia tộc, thôn xóm, trong xã hội.  Trước khi muốn gìn giữ hoặc đả phá, một thói quen, ông cố trình bày cặn kẽ cho người đọc am tường, sau đó ông đưa ý kiến riêng, không phải là vô trách nhiệm, công kích chỉ vì chưa hiểu cặn kẽ sự thật. Sự góp ý của ông rất chân thành, khác với phong cách ăn nói đao to búa lớn của kẻ chạy theo thời trang, công kích để mà công kích, cho thiên hạ thấy ta là người tiến bộ. PHONG TỤC VIỆT NAM là tư liệu cần thiết để “suy cổ nghiệm kim”. Mong rằng khi xếp sách lại, người đọc sẽ thấy toát lên yêu thiên nhiên, tình đoàn kết giữa người trong một nước. Muốn cho một nếp suy nghĩ trở thành phong tục, phải kinh qua thời gian dài. Và muốn đả phá một tục lệ hủ lậu, củng phải kiên trì, cương quyết. Quả thật Phan Kế Bính là một nho sĩ không chịu đứng về phía bảo thủ. 

 

Mỗi làng có một chùa thờ Phật, có làng to thì lập đến hai ba ngôi chùa.

Gian giữa từng trên nhất thờ ba vị Thế Tôn, đầu tóc xoăn như ốc bám, thường gọi là Bụt ốc. Kế đến bà Mụ Thiện mười hai tay, rồi đến bà Di Lặc béo phục phịch, tục truyền bà ấy nhịn mặc mà ăn cho nên béo. Kế đến tượng Quan Âm có Kim Đồng, Ngọc Nữ kèm hầu đôi bên, một bên cưỡi con bạch tượng một bên cưỡi con thanh sư. Rồi đến tượng Ngọc Hoàng, một bên là Nam Tào, một bên là Bắc Đẩu. Ngoài cùng thì là tượng cửu long bằng đồng có Phật Thích Ca đứng giữa.

Hai bên, ở phía trong một bên thờ ông Tu Sương gầy khô như hạc, tục gọi là nhịn ăn mà mặc cho nên gầy, một bên thờ bà Thị Kính hay bế một đứa con, cạnh mình có con vẹt đứng, tục truyền là Thiện Sĩ (chồng bà ấy) hóa thân. Ở phía ngoài thì mỗi bên có năm ông Bụt gọi là thập điện La Hán.

Hai gian cạnh gần gian giữa, một bên thờ tượng Long Thần, mặt đỏ mắt sắc gọi là Đức ông hoặc Đức chúa, tức là Thổ thần. Một bên thờ thầy Đường Tăng, có Đại Thánh, Bát Giới đứng hầu.

Hai gian ngoài cùng thờ hai tượng Hộ Pháp, một tượng mặt mũi hiền lành cầm quả ấn, một tượng mặt mũi dữ dội vác thanh gươm, mỗi tượng cưỡi một con Nghê.

Còn đôi bên vách tường thì đắp mật động, nào là thiên phủ có quần tiên gay đàn thổi sáo vui vầy, nào là địa phủ, có Diêm Vương hành tội,những người chết, kẻ thì bị quỷ sứ cưa đầu kìm lưỡi, kẻ thì bị quỷ sứ quang vào núi gươm đao, kẻ thì được lên thiên đường hưởng sự sung sướng, kẻ bị bị trầm luân nơi khô ải phải trải nếm đắng cay...

Ngoài cửa chùa có cửa tam quan làm giác chuông, mỗi buổi chiều thì thỉnh ba hồi chuông, rồi mới tụng kinh niệm Phật.

Sau chùa có tĩnh thờ chư vị và có nhà thờ Tổ. Nhà thờ tổ là nơi những tăng ni tu hành ở đó, về sau mất đi nhà chùa tô tượng đế thờ. Lại có nhà hậu để thờ những người mua hậu chùa, cứ đến ngày giỗ thì nhà chùa phải giỗ. Có phòng riêng làm chỗ nhà sư ở gọi là nơi trụ trì, có chỗ để khách khứa ngồi chơi, gọi là nhà phương trượng. Phía sau thì là nơi mộ tháp của tăng ni.

Chùa lắm nơi danh lam thắng tích, cách thức to tát rộng rãi, phong cảnh thanh thú vô cùng. Nhưng cũng nhiều nơi ở giữa quãng không, hoặc ở bên sườn núi xa thẳm, vài ba gian tiều tụy lơ thơ, quanh năm ít người thăm viếng, thì lại là nơi cô tịch quá.

Chùa phải có nhà sư ở, sư nam gọi là tăng, sư nữ gọi là ni. Chùa nào không có tăng ni thì có một thầy tu, gọi là thầy già lam để coi việc đèn hương cúng cấp.

Dân làng mỗi năm về những ngày đoan dương chính đán thì dùng lễ oản chuối đem đến lễ Phật, về ngày giỗ sư tổ dân làng cũng đem vài buồng cau và một vài đồng bạc đến lễ giỗ.

Cỗ chay dùng toàn đậu, bột khoai, vừng chế ra nấu các thức ăn cũng đủ giò chả bóng mực v.v...

Còn về phần nhà chùa thì mỗi tuần rằm, mồng một phải xin oản cúng Phật. Cúng rồi chia cho các vãi mỗi người một phần oản chuối gọi là lộc Phật. Các vãi phải mỗi tháng đóng tiền cúng về nhà chùa.

Ngày vào hè ra hè, thượng nguyên trung nguyên, cùng là các ngày mồng năm ngày Tết đều có làm cỗ chay cúng Phật, rồi thì thết đãi các con hương đệ tử. Các vãi và các con hương đệ tử ăn cỗ mỗi người cúng độ một vài hào bạc, nếu không cúng mà ăn không của Bụt thì phải tội. Ăn rồi mỗi người lại được một phần oản, một quả chuối làm phần.

Nhà chùa có việc tu tạo gì hoặc là việc tô tượng đúc chuông thì tăng ni nói với dân làng, dân làng đứng lên lập sổ phổ khuyên cho người đem sổ đi quyên giáo thập phương, gọi là việc tập phúc. Có khi một vài người sư tiểu cầm sổ đi khắp các làng các ngõ, vào từng nhà mà quyên; có khi năm bảy bà vãi kéo vào từng nhà nam mô niệm Phật rầm xóm; có khi hai người khiêng cái võng, trên đờn treo cái chuông hoặc cái cảnh theo sau một lũ năm ba bà vãi đi đến các chợ búa, gõ chuông quyên giáo, ai cúng đồng tiền nào ném vào trong võng, ơ chỗ cửa chùa thì bày một cái nong bên cạnh đường đi, đốt năm ba nén hương cắm lên bình, vài bà vãi đánh trông kê kệ, ai đi qua lại cũng quang dăm ba đồng kẽm hoặc một vài xu vào cúng.

Việc to có sổ quyển, ai cúng bao nhiêu phải đề tên biên số tiền vào số, đợi khi xong việc, liệt tên lên bảng để tỏ cái lờng tốt của người ta. Việc nhỏ cúng dăm ba hào một vài xu thì thôi. Việc đúc chuông dẫu cúng đồng tiền gì cũng phải lấy, nếu không lấy thì việc đúc chuông không thành.

Đã nói đến việc quyên giáo I làm phúc thì ai cũng cúng nhiều ít tùy lờng. Nhưng cũng lắm kẻ gian biển, giả danh quyên giáo để độ khẩu thì thực là một cách đê tiện.

(Trích PHONG TỤC VIỆT NAM - PHAN KẾ BÍNH)

 Thầy Phong Thủy

Gửi bình luận

Đối tác của Đại Hưng

ftrFeatured
TAM NGUYÊN  bằng các biện pháp phong thủy của mình đã giúp hàng nghìn người có cuộc sống hạnh phúc
 
 
Dayhocthilaixeotob2Dạy học thi lái xe oto B2vietskybookinglamwebseo