Bảy điều giới sát Dọn nhà đón năm mới Xem chữ viết đoán tính cách

Nghi thức lễ ăn hỏi

Tam Nguyên Phong Thuỷ 20/05/2017
Lễ ăn hỏi còn được gọi là lễ đính hôn là một nghi thức trong phong tục hôn nhân truyền thống của người Việt.
  1. Lễ vật

Trong lễ hỏi này, họ nhà trai qua nhà gái với một số quyến thuộc chọn lọc chừng 10 hoặc 12 người. Lễ vật bắt buộc phải có thường là:

  1. Một khay trầu rượu.
  2. Một đôi đèn sáp đỏ, có sơn nắn hình long phụng càng tốt.
  3. Một số trầu cau theo yêu cầu của họ nhà gái.
  4. Nữ trang cho cô dâu (thường là đôi bông tai hay đôi khuyên tai).
  5. Một số tiền gọi là tiền đồng, hay là tiền chợ, tiền nát (nạp tài).
  6. Một cặp rượu, một cặp trà, hai hộp bánh và một số trái cây.

Khay rượu chẳng những có rượu pha màu đỏ (rượu hồng) mà còn có thêm cau trầu têm sẵn. Ở trên khay còn có hộp bằng đồng dành để đựng nữ trang cho cô dâu. Đôi đèn sáp (đèn cầy) đỏ dùng để “lên đèn” trên bàn thờ gia tiên nhà gái. Trước khi mua cặp đèn cầy này chàng rể cần phải xin phép trước để đo chân đèn của bộ lư nhà gái “ni tấc” mà mua hạng đèn cho đúng và cho xứng với bàn thờ. Khi đem qua nhà gái, nếu cặp đèn cầy nhỏ thì có thể gác ngang qua khay trầu rượu do chú rể bưng. Còn như cặp đèn cầy cỡ lớn thì hộp đựng đèn cầy phải do một người khác bưng.

Trầu cau phải đếm kỹ lưỡng đủ số, có số chẵn chứ không được lẻ.

Trầu phải tươi tốt, người ta thường tìm loại trầu vàng (sà lẹt nghệ). Số trầu này có thể sắp ra từng phần với cau theo yêu cầu của nhà gái. Cau nguyên buồng hay cau trái cũng tùy theo yêu cầu nhà gái. Nếu nhà gái không đòi hỏi nhiều, chỉ đưa ý kiến là “có tượng trưng mà thôi” thì số trầu cau có thể như sau:

  1. Trầu xếp ra làm 6 xấp, mỗi xấp có 4 lá, tổng cộng là 24 lá trầu. Số 6 tượng trưng cho “lục lễ”. Số 4 tượng trưng cho “tứ quý”. Tứ quý theo ý nghĩa của người miền Trung là Phước, Lộc, Thọ và Toàn. “Toàn” ở đây là toàn vẹn. Ở miền Nam có chỗ giải thích là Phước, Lộc, Thọ và Hỷ. Hỷ có nghĩa là vui.
  2. Cau được người ta chọn cái chóp của buồng cau, tượng trưng cho cả buồng. Chóp là cái đuôi cuối của buồng cau, mà cũng có nghĩa là phần trên cuối cùng của buồng cau. Buồng cau tượng trưng cho sự sum sê, đầy tràn. Người ta cũng chọn một số chẵn cho số trái cau. Thường từ 40 trái trở lên. Nếu trầu 24 lá thì cau 24 trái cũng đủ đặt để vào một quả tráp. Trầu cau nhiều, phải đựng bằng mâm lớn riêng biệt. Cau, người ta kỵ cắt, chia, mà chỉ nói bẻ mà thôi. Dù cho ngày nay, người ta không nói tới điều cấm kỵ đó, song ta cũng phải có đủ hiểu biết để đừng sai phạm.
  3. Nữ trang cho cô dâu trong lễ hỏi thường chỉ là một đôi hoa tai vàng. Ngày xưa ở nhà quê, người ta dùng vàng y. Nhưng đôi hoa tai này phải búp (bông búp), vì bông nở chỉ dành cho lễ cưới. Ta có câu: “Bông búp về nàng, bông nở về anh!”. “Bông búp” là bông có cánh còn khép kín lại và “bông nở” là bông đã mở các cánh ra. Người con gái sau khi đã đính hôn, tức là đã có lễ hỏi thì phải mang luôn luôn đôi hoa tai đó. Vì vậy, khi ra đường, người ta nhìn thấy, hiểu ngay đó là cô gái đã có chồng sắp cưới, không thể lẫn lộn với các cô chưa có nơi nào “đặt cọc” hay các cô đã có chồng rồi.

Ngày nay, người ta đổi mới, lễ hỏi hay lễ cưới gì cũng cho đôi khuyên vàng tây hết, thành ra sự lẫn lộn nào ai hay biết được. Lại có người theo Âu Mỹ cho thêm chiếc nhẫn nữa. Thật ra, chiếc nhẫn này chỉ dành cho ngày cưới.

Cho dù nhà gái không đòi, nhà trai cũng phải nạp tài, tức là phải có tiền đồng, tiền chợ cho lễ hỏi mà người miền Trung như tỉnh Quảng Ngãi còn gọi là “tiền nát”. Tốt hơn hết là nhà trai nên đặt thẳng vấn đề này trước, xem đàng gái cần bao nhiêu. Vì trong lễ hỏi này, nhà gái phải đãi đằng tiệc tùng họ nhà trai, tốn kém lắm lắm. Cũng như trong lễ cưới, họ nhà trai phải đãi họ nhà gái. Nếu nhà trai thừa sức, đủ rộng rãi thì đi tiền đồng nhiều khỏi phải hỏi. Nên hiểu là tiền đồng này ngoài việc sử dụng mua thức ăn đãi đằng, về sau nhà gái còn phải mua sắm thêm những thứ cần thiết cho cô dâu nữa, những thứ mà nhà trai có thể không lo được, vì chỉ có cô dâu biết mà thôi.

Tiền đồng này phải được bỏ vào phong bì hay gói kín lại bằng giấy đỏ, để vào trong đĩa hay hộp nhỏ trên khay trầu rượu sẽ chuyển giao chính thức cho nhà gái trong buổi lễ.

Rượu, bánh, trái cây cũng được đặt gọn vào quả tráp hay mâm. Tất cả quả tráp, khay trầu rượu đều được phủ khăn nhiễu đỏ khi đem đến nhà gái.

Khi đến nhà gái, họ nhà trai phải có người lớn tuổi dẫn đầu, nếu không có tộc trưởng. Nếu không thì người chủ hôn, tức là cha mẹ chàng rể hay người đại diện cha mẹ (thay mặt trong trường hợp cha mẹ chết hoặc vì lý do nào đó không thể hiện diện được) của chàng rể dẫn đầu, kế tiếp là chú rể, và những thanh niên bưng lễ vật cùng các người đi hỏi.

 

  1. Thủ tục cử hành lễ

Thủ tục cử hành lễ hỏi đơn giản hơn lễ cưới. Khi họ nhà trai tới thì lễ vật được để trước bàn thờ, trên một cái bàn dài lớn đã được sắp xếp sẵn. Họ nhà gái ra tiếp, đứng phía bên trái bàn thờ và phía bên phải bàn thờ, là họ nhà trai.

Trước hết, tộc trưởng hay người cha của chàng trai mở đầu nói về ý nghĩa đem lễ vật tới để xin được làm lễ đính hôn cho hai trẻ, tức là lễ hỏi con gái nhà này cho con trai của họ. Đáp lời, tộc trưởng hay người cha của cô gái chấp nhận. Bên nhà trai xin được trình lễ vật đủ các thứ đã chuẩn bị sẵn.

Cha mẹ cô gái cho gọi cô gái ra trình diện hai họ. Lúc này, cô gái mặc áo dài màu, thường là màu hồng có kết hoa vải và đứng cạnh chàng trai trước bàn thờ. Có nơi, người ta chỉ cho phép cô gái ra trình diện mà không cho đứng cạnh chàng trai.

Ông tộc trưởng (hay cha chàng trai) trình họ nhà gái cặp đèn cầy để chuẩn bị lên đèn. Bên nhà gái đã chọn trước một người trọng tuổi, thường từ 50 trở lên, “một kèo một cột”, tức là người này từ thuở còn trai tráng tới giờ chỉ có một vợ một chồng và con cháu đông đầy đàn, để làm nhiệm vụ lên đèn, tức là thắp sáng bàn thờ.

Sự việc chọn người lên đèn như vừa đề cập đến là có ý nghĩa lấy cái phước và cái đức của người đó dẫn đường cho cô dâu và chú rể, cặp vợ chồng mới trong tương lai cuộc đời. Ở lễ cưới người ta cũng chọn người như vậy.

Nếu nhà gái không chọn được người thì chính người cha cô gái nếu có đủ điều kiện nêu trên sẽ làm việc ấy. Trường hợp không có ai đủ điều kiện thì chính chàng trai, lúc này được kể là chuẩn bị làm rể, phải tự làm cho mình.

Lên đèn là một lễ tục quan trọng, làm tăng thêm phần ý nghĩa về giáo dục gia đình và văn hóa dân tộc cho nên người ta thường làm một cách cẩn trọng, không vội vã.

Đèn cầy phải được lấy ra cẩn thận, từ trong hộp giấy có dán kín bằng giấy kiếng trong suốt. Cặp đèn cầy có sơn nắn hình long phụng, tức là một cây mang hình con rồng và còn cây kia mang hình con chim phượng, dáng từ trên cao lượn mình xuống và hai con giao đầu nhau.

Cây đèn có hình con rồng là cây tượng trưng cho chú rể và cây có hình con phượng là cây đèn tượng trưng cho cô dâu.

Sau đó, cô dâu và chú rể tương lai đứng vào theo đúng hướng và vị trí của mình, tức là chú rể tương lai đứng ngay cây đèn con rồng và cô dâu tương lai đứng ngay cây đèn con phượng. Nói cách khác, “nam tả nữ hữu”, nghĩa là trai bên trái, gái bên phải, theo hướng từ trong bàn thờ nhìn ra. Như vậy từ ngoài cửa nhìn vào bàn thờ thì nam bên phải, nữ bên trái. Nói thêm về tâm lý tình yêu thì cô dâu (vợ) bao giờ cũng đứng sát trái tim của chàng rể (chồng).

Sau khi “lên đèn” xong, người cha của cô dâu bước tới trước bàn thờ, đốt ba cây nhang lớn làm lễ khấn gia tiên về chứng giám. Ông sẽ lạy bốn lạy với ba cây nhang đó rồi gắn lên lư hương để mở đầu cho chàng trai bước tới làm lễ.

Tiếp theo là chàng trai làm lễ trước bàn thờ gia tiên bằng cách lạy bốn lạy. Trong lễ hỏi, cô dâu tương lai không có lạy mà chỉ có một mình chú rể tương lai làm lễ mà thôi.

Sự việc này có ý nghĩa: mới đính hôn, cô gái chưa phải là cô dâu chính thức và thật sự, nhưng người con trai thì phải vái lạy gia tiên nhà gái xin cho mình được vào làm rể nhà này. Việc vái lạy của chàng trai có ý nghĩa như vậy.

Trong khi chàng trai lễ trước bàn thờ gia tiên, người con gái cùng gia đình cô đứng chứng kiến. Sau đó, chàng trai quay ra vái cha mẹ và những người trên trước bên nhà cô gái. Nhưng nhiều gia đình dễ dãi đã miễn cho chàng trai công việc này. Nếu có vái thì vái mỗi người hai vái.Vái bằng cách bàn tay trái xòe ra bao bọc bàn tay phải nắm chặt đưa ra trước thành hình vòng cung, hai nắm tay có vị thế ngang ngực và không nên đưa quá cao khỏi trán.

Lúc này, hai người đã trở thành vị hôn phu và vị hôn thê của nhau, nghĩa là vợ chồng mới một nửa, vì sắp cưới nhau. Hai người có thể giới thiệu nhau với người ngoài: “Đây là chồng chưa cưới hay vị hôn phu của tôi” hoặc “Đây là vợ sắp cưới hay vị hôn thê của tôi.”

Sau lễ của chú rể trước bàn thờ nhà gái là việc đeo bông tai cho cô dâu. Bà mẹ chồng tương lai làm làm công việc này, có thêm bà sui phụ vào. Liền theo nữa là việc trao gói tiền nạp tài và chính tay cha chàng rể rót rượu hồng mời cha cô dâu tương lai uống mừng sự kết tình thông gia và hai bà sui mời nhau ăn trầu đã têm sẵn lấy trên khay trầu rượu. Việc trình lễ vật cũng vào lúc này.

Sau cùng là tiệc nhà gái đãi đằng nhà trai. Những tộc trưởng và hàng trên trước được mời vào ngồi ở bàn dành riêng là bàn gia tiên, cũng gọi là bàn trưởng thượng hay là bàn tộc trưởng được đặt ở giữa nhà. Còn những người khác được mời ở các bàn khác.

Riêng chú rể thì đã bắt đầu đi dần vào bổn phận làm rể, không được phép ngồi vào bàn ăn mà phải đi đứng lo việc tiếp đãi. Ai mời gọi ngồi ăn, chú rể ý thức và tự trọng cũng không dám tự tiện ngồi vào bàn, phải tìm cách thoái thác để giữ sĩ diện là con nhà gia giáo, phong cách chớ không phải hạng xô bồ, thiếu học thức. Nên nhớ rằng người có học thức là người biết tự trọng và biết giữ phong cách của mình.