Đôi lời về phong thuỷ Tư vấn tử vi trọn đời Bói Chồng qua giờ sinh

Giảng địa đạo diễn ca câu 51-74: Phân biệt

Tam Nguyên Phong Thuỷ 22/03/2017
Đoạn này cụ Tả Ao giảng về hình dáng, đất có huyệt kết, và ảnh hưởng của nó như thế nào?

A. ĐẤT PHÁT VĂN HAY VÕ

B. HUYỆT CÁT HAY HUNG

 Trích dẫn:

A. Đất phát văn hay võ

(51) Thắt cổ bồng phồng ra huyệt kết

(52) Xem cho biết mộc tiết kim loan

(53) Mộc tiết văn đỗ trạng nguyên

(54) Kim loan võ được tước quyền quận công

(55) Con mộc vốn ở phương Đông

(56) Con kim vốn nó về dòng phương Tây

(57) Xem cho biết nó mới hay

(58) Táng cho phải phép thực dày vinh hoa.

 Diễn Giải:

Đoạn này cụ Tả Ao giảng về hình dáng, đất có huyệt kết, và ảnh hưởng của nó như thế nào?

Một đất có huyệt kết thường cần có đặc điểm là phải thắt cổ bồng rồi phình ra, mới chắc ăn. Ý này ở trên cụ đã nói rồi, xong là quan trọng, nên cụ lại nhắc lại lần thứ hai:

(51) Thắt cổ bồng phồng ra huyệt kết

rồi cụ đề cập đến hình của chỗ đất kết và ảnh hưởng của nó:

(52) Xem cho biết mộc tiết kim loan

(53) Mộc tiết văn đỗ trạng nguyên

(Hình: Đất phát văn)
 

(54) Kim loan võ được tước quyền quận công

Một đất sinh nhân thế nào, đầu tiên phải biết đất đó thuộc về văn hay võ. Văn cao nhất là Trạng nguyên, Tể tướng rồi xuống thấp dần cho đến Thư ký. Về võ cao nhất là Quận công. Nguyên Soái rồi xuống dần cho đến lính trơn. Trước khi biết giá trị của đất đó làm đến chức vụ gì ta phải biết nó về loại văn hay võ đã.

Nếu phát văn thì thường đất hình dài, mà dài là hình mộc và nếu là võ thì thường đất là hình tròn, mà tròn là hình kim: Phân biệt phát văn hay võ trước, rồi coi cho đủ chi tiết có thể đoán được văn cao đến bậc nào, và võ lớn tới mức nào, trong văn ban hoặc võ ban. Trường hợp đất vừa dài vừa tròn ta có thể cho là phát cả văn lẫn võ.

 

ĐẤT HÌNH KIM (TRÒN) PHÁT VÕ

(Hình: Đất phát võ)
 

Tuy nhiên cụ nói là mộc tiết chứ không phải  mộc và kim loan chứ không phải kim. Mộc tiết là cái mắt của gỗ kim loan là cái cốt của bánh xe.

Câu “xem cho biết mộc tiết kim loan” ta phải hiểu mộc tiết kim loan là nhũ đột và oa kiềm.

Phát võ, phát phú thì xung quanh có nhiều con kim triều củng. Phát văn thì xung quanh có nhiều con mộc con hỏa triều củng.

Mộc phát văn, kim phát võ, ta cứ lấy đó làm chính và cũng lấy đó mà thừa trừ cân nhắc suy xét cả đại cuộc đất thì sẽ có thể biết rõ được đất phát như thế nào, càng chi tiết được nhiều càng chính xác. Muốn giải đoán ta phải biết nhiều về lý khí. Phạm vi quyển này chỉ nặng về loan đầu. Đến quyển Dã Đàm Tả Ao chúng tôi cho xuất bản kế tiếp sẽ nói nhiều về lý khí hơn.

Những chứng ứng chầu về huyệt cũng có ảnh hưởng. Nếu là chứng ứng hình mộc thì phương Đông hành mộc là vượng (theo ngũ hành) và tròn là hình kim thời phương tây hành kim là vượng.

Các thầy địa lý hay bát hình để làm tôn vẻ đẹp cho cuộc đất gọi là con Phượng, con Lân, con Rùa, con Chim, con Hổ, con Voi nhưng cũng không ngoài sự kết huyệt phải có oa, kiềm, nhũ, đột, khí long đình khí chỉ. Dù có những con đó mà không có long đình khí chỉ thì cũng không kết. Nếu muốn gọi con gì cũng được xong căn bản ngũ hành là điều ta cần nhớ cho kỹ.

- Con Mộc hình dài và phương Đông thuộc Mộc.

- Con Kim hình tròn và phương Tây thuộc Kim.

- Con Hỏa hình dài nhọn và phương Nam thuộc Hỏa.

- Con Thủy hình sóng gợn và phương Bắc thuộc Thủy.

- Con Thổ hiìh vuông và trung ương thuộc Thổ.

Xem những hình thể đất và chứng ứng hình gì (con Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ) và xem phương hướng chúng đóng để biết sinh vượng hay tử, tù hưu rồi táng cho phải phép thì dòng dõi sau này được vinh hoa phú quý.

Cụ Tả Ao đã tóm ý trên vào 4 câu:

(55) Con Mộc vốn ở phương Đông

(56) Con Kim vốn nó về dòng phương Tây

(57) Xem cho biết nó mới hay

(58) Táng cho phải phép thực dày vinh hoa

Ấy thế là những hình đắc vị

Tuy nhiên ngũ hành mới là phụ thuộc, đúng phương vị càng hay, không đúng cũng không sao. Miễn là huyệt kết đúng phép huyệt trường có oa, kiềm, nhũ, đột là được.

Kiếm được đất kết oa, kiềm, nhũ, đột rồi tránh được cái xấu của sa và thủy cũng là quý hóa rồi.

 

B. Huyệt cát hay huyệt hung

Trích dẫn:

(59) Thắt cuống cà phì ra mới kết

(60) Xem cho biết huyệt cát huyệt hung

(61) Huyệt cát nước tụ vào lòng

(62) Đôi bên long hổ uốn vòng chiều lai

(63) Huyệt hung minh đường bất khai

(64) Sơn tà thủy xạ hướng ngoài tà thiên

(65) Táng xuống kinh sàng bất yên

(66) Con cháu thường thường phát bệnh ốm đau

(67) Muốn cho con cháu sống lâu

(68) Tìm nơi Huyền Vũ đằng sau cao dày

(69) Long Hổ bằng như chân tay

(70) Chẳng có tả hữu bằng ngay chẳng lành

Diễn Giải:

Phần này cụ Tả Ao ấn định huyệt tốt, huyệt xấu vào hai loại: Huyệt cát và huyệt hung. Trước khi nói đến hai loại huyệt này cụ lại cẩn thận chắc chắn, nhắc lại lần thứ ba một ý nữa:

(59) Thắt cuống cà phì ra mới kết

Để con cháu xem lại có phải là đất kết không đã, rồi mới đi vào phần chi tiết tìm hiểu một huyệt cát hay huyệt hung. Cụ phải nhắc lại như vậy vì lý do:

Nếu không phải đất có huyệt kết, thì phân tích huyệt cát huyệt hung làm gì cho mất thời gian.

Bây giờ cụ mới giảng chỗ có huyệt kết đó: Cát hay hung.

Xem cho biết huyệt cát huyệt hung

(61) Huyệt cát nước tụ vào lòng

(62) Đôi bên long hổ uốn vòng chiều lai

(63) Huyệt hung minh đường bất khai

(64) Sơn tà thủy xạ hương ngoài tà thiên

Một đất kết có rồi ta phải xem nó là đất kết cát hay hung.

Huyệt hung thì Minh đường không tụ nước và sơn thủy xấu. Sơn thủy xấu là:

(64) Sơn tà, thủy xạ, hương ngoài tà thiên

Sơn là sơn không chính. Sơn là các sa như bút (giải nhọn) bảng (hình chữ nhật) ấn (hình vuông) ngựa, voi, trâu, lân, hổ (hình thú) v.v...

Những chứng ứng này không chầu vào huyệt, chiều cao không cân đối (gần thì ngang huyệt, càng xa càng cao hơn) đều là sơn là (không chính) không quân bình, phương chính. Sơn xấu làm cho huyệt kết thành kết hung.

Thủy xạ: Thủy xạ là các ngọn nước đáng nhẽ phải bao nhiêu (chạy khuất khúc) chầu về huyệt thì đâm thẳng vào huyệt hay giữa Minh đường như phóng mũi nhọn của nó vào huyệt hay vào giữa minh đường. Nước như thế là thủy xạ, thủy như thế là thủy xấu làm cho huyệt kết thành kết hung.

Hướng ngoài tả thiên: là sơn hay thủy đáng nhẽ chầu vào huyệt thì lại quay lưng lại huyệt và chầu ra ngoài (hướng ngoài). Các sa méo mó lệch lạc siêu vẹo lở đứt. Sơn thủy hướng ngoài tả thiên cũng làm cho huyệt kết trở lên huyệt hung.

Không những sa (sơn) và thủy (ngọn nước) “hướng ngoài tả thiên” là xấu, mà chính ngay Minh đường hướng ngoài tả thiên là loại minh đường nghiêng lệch đổ nước ra ngoài chứ không thu nước vào trước huyệt. Minh Đường mà nghiêng lệch thì con cháu sẽ có tâm địa tà dâm, bất chính.

Ta lại tóm tắt huyệt cát huyệt hung qua Minh đường, Long hổ, Huyền vũ một lần nữa vì nó quan trọng:

Minh đường ảnh hưởng đến sự giàu nghèo và sự thông minh hay ngu đần của con cháu, còn Long Hổ thì tay Long ảnh hưởng đến con trai hay ngành trưởng và tay Hổ ảnh hưởng đến con gái hay ngành thứ.

Một huyệt tốt (huyệt cát) trước tiên và cần thiết nhất là:

Minh Đường phải có nước tụ và hai bên Long Hổ phải ôm chầu về huyệt.

Huyệt hung thì Minh Đường không có nước (Minh Đường bất khai) con cháu sẽ nghèo. Minh Đường phải quanh năm có nước, con cháu mới giàu được.

Nói qua Minh Đường rồi nay nói đến Long Hổ: Long Hổ phải ôm chầu vào huyệt mới tốt. Tay Long và tay Hổ không tay nào được ngoảnh ra ngoài.

Để mã vào chỗ đất có huyệt hung thì có thể có báo hiệu ngay bằng cách trong nhà thấy đau yếu tang thương.

(65) Táng xuống kinh sảng bất yên

(66) Con cháu thường thường phát bệnh ốm đau

Táng phải huyệt hung thì khi đất chưa kết đã xảy ra tang thương bệnh tật cho con cháu, trong nhà trong họ, nhiều người cho là đất kết phải sát trước mới phát sau. Sự thực thì tại gặp huyệt hung và tiêu sa nạp thủy không giỏi mà ra.

Nói về huyệt cát huyệt hung ta cần phải chú trọng đến Huyền vũ nữa. Huyền vũ là chỗ long mạch dẫn vào huyệt kết. Nó là nơi rót khí mạch vào huyệt. Nơi Huyền Vũ mà cao dày thì con cháu mới được thọ, mới sống lâu. Huyền Vũ mỏng và thấp con cháu kém thọ thì dù có học giỏi cũng không ra gì.

(67) Muốn cho con cháu sống lâu

(68) Tìm nơi Huyền Vũ đằng sau cao dày

(69) Long Hổ bằng như chân tay

(70) Chẳng có tả hữu bằng ngay chẳng lành.

Tay Long tay Hổ của huyệt cũng như tay phải tay trái của người. Nó không được đứt đoạn, khuyết hãm mà còn cần phải bằng ngay cao ngang huyệt tràng để che gió cho huyệt thì mới không có hại (gọi là tang phong).

Một đất kết ở giữa thì đằng sau có Huyền Vũ. Hai bên có Long Hổ, đằng trước có Án mới đủ quân bình phương chính mà ở đây cụ Tả Ao không đề cập Án, vậy phải nói thêm cho đủ.

Án ở trước huyệt như cái bàn giấy trước mặt người ngồi. Án họ huyệt ở đằng trước cũng như chấm ở đằng sau. Long Hổ ở hai bên. Như vậy, Án cũng phải có “tinh” với huyệt. Muốn thế án phải ôm chầu vào huyệt. Rất kỵ Án có mũi nhọn đâm hoặc phản lưng vào huyệt.

Cụ Tả Ao không nói Án xong có nói đên Sa (Sơn) Án cũng là một loại sa nhưng can hệ hơn các Sa khác. Án là thứ sa chính.

ĐẤT PHÁT QUAN

(Hình: Đất phát quan)

(73) Muốn cho con cháu nên quan

(74) Thì tìm Thiên Mã Phương Nam (Ngọ) đứng chầu

(Trích: Địa đạo diễn ca - Địa lý tả ao)

Tam Nguyên Phong Thuỷ

Tags: