Hai mặt của số đào hoa Cụ Tả Ao và làng cối xay gạo Kiêng kỵ ngày rằm, mùng 1 đầu tháng

Đoán chuyện tốt xấu qua thịnh suy của can chi ngũ hành

27/05/2017
Sự ra đời âm dương của can chi là từ ngũ hành, sự mạnh yếu, thịnh suy của kim, mộc, thủy, hỏa, thổ gắn liền với sự vận hành của các thiên thể. Đó là thế giới thống nhất giữa xã hội, lịch sử và tự nhiên.

    Sự ra đời âm dương của can chi là từ ngũ hành, sự mạnh yếu, thịnh suy của kim, mộc, thủy, hỏa, thổ gắn liền với sự vận hành của các thiên thể. Đó là thế giới thống nhất giữa xã hội, lịch sử và tự nhiên.

   Trong dự đoán vận mệnh, người xưa đã tổng kết ra nhiều phương pháp suy đoán khoa học để cố gắng ăn khớp với quy luật vận hành của các thiên thể. Đó là thông qua âm dương, ngũ hành của thiên can ngày giờ sinh người đó đối với tình trạng khí bẩm sinh của trời đất – thuận nghịch, suy vượng, dày mỏng của tháng sinh để đoán ra vận mệnh của cả cuộc đời.

   Ví dụ sinh ngày Giáp, tháng Tí, tức can ngày là Giáp Mộc, sinh vào sau Lập Xuân, trướcKinh Trập, như thế Giáp được nhiều thiên thời địa lợi, bẩm khí tự nhiên dày dặn, nên gọi là “Lâm Quan”.

    Nếu sinh vào tháng Thân, thuộc tính của Thân là Dương Kim, khắc mộc. Tháng  Thân là sau Lập Thu, trước Bạch Lộ, đúng vào lúc cây cối thất thời thất thế, cây già vừa chết, cây non chưa hình thành, cho nên Mộc “tuyệt” ở Thân

    Những tháng khác cũng tàng ẩn những tin tức về vận mệnh, cho nên cũng có thể lần lượt the cách đó mà đoán biết. “Lâm Quan”, “tuyệt”… gồm 12 giai đoạn tượng trưng cho khí của 12 tháng trong 1 năm.

    Thứ tự của chúng là: Trường Sinh, Mộc Dục, Quan Đái, Lâm Quan, Đế Vượng, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai, Dưỡng. Mười hai giai đoạn đó biểu thị trạng thái của ngũ hành thể thiện trong mười hai chi.

 

MƯỜI CAN ỨNG VỚI MƯỜI HAI CUNG

  1. Trường sinh: giống như người vừa sinh ra hoặc là giai đoạn giáng sinh, tức là chỉ lúc vạn vật vừa mọc mầm.
  2. Mộc dục: là trẻ sơ sinh được tắm rửa để trừ uế bẩn, tức chỉ vạn vật vừa sinh ra đã được trời đất tắm gội.
  3. Quan đái: là trẻ em đã cĩ thể mặc áo, đội mũ, tức là chỉ vạn vật đã dần dần mạnh lên.
  4. Lâm quan: như người đã trưởng thành cường tráng, có thể làm quan, lãnh đạo dẫn dắt người khác, tức là chỉ sự vật đã trưởng thành.
  5. Đế vượng: tượng trưng cho người đã mạnh mẽ đến cực điểm, có thể giúp vua làm những việc lớn, tức là chỉ sự vạn vật đã thành thục.
  6. Suy: là chỉ vì đã cực thịnh nên khí bắt đầu suy, tức vạn vật bắt đầu phát sinh suy biến.
  7. Bệnh: như người bị bệnh tật, tức là chỉ vạn vật khốn đốn.
  8. Tử: là người khí đã hết, thân xác đã chết, hay vạn vật đã bị diệt.
  9. Mộ: còn gọi là “kho” , như người sau khi chết nhập mộ hay chỉ vạn vật sau khi thành công quy về kho.
  10. Tuyệt: như thể xác con người đã bị tan rã trở thành đất hay chỉ vạn vật khi trước đã tuyệt, khí tiếp sau còn chưa đến, chưa có hình hài gì ở trong đất.
  11. Thai: như con người nhờ khí của cha mẹ kết tụ thành thai hay là chỉ lúc khí của trời đất giao nhau, sau đó khí được kết thành thai.
  12. Dưỡng: giống như thai người được mẹ nuôi trong bụng, sau đó được sinh ra, hay chỉ vạn vật được hình thành trong đất, sau đó phát mầm.

    Cứ như thế, mọi vật đều trải qua quá trình tuần hoàn sinh sinh, diệt diệt không ngừng.

    Bắt đầu từ Trường Sinh lần lượt qua mười hai giai đoạn tức là từ nhỏ yếu đến lớn mạnh, từ cực thịnh đến suy bại, cứ thế lặp đị lặp lại, đó là nguyên nhân của bốn mùa thay nhau biến đổi, khí của hành lần lượt phân bố, thổ kí sinh ở dần là vì dần là mạnh xuân tháng giêng. Khi đó khí trời giáng xuống, khí đất dâng lên, trời đất hòa đồng, cỏ cây vì thế mà nảy mầm. Cho nên thổ được xem là sinh ở dần cũng là vì thuận theo trật tự ngũ hành tương sinh.

    Ngoài ra khi mà can dương chết thì đúng lúc can âm sinh. Các can dương tính thuận theo mười hai cung, các can âm được tính ngược lại, đó là vì hai khí âm dương khác nhau, phù hợp với nguyên lí “đạo trời quay theo chiều trái, đạo đất quay theo chiều phải”. Can dương lâm quan thì can âm là đế vượng, can âm lâm quan thì can dương là đế vượng, đó là theo bốn mùa. Còn có cách nói thời kỳ mộc dục là bại địa, tôi cho rằng cách nói đó ngược với lẽ tự nhiên. Vì trẻ sơ sinh lại được tắm gội là được giải trừ uế bẩn, do đó các nói trên không có sức thuyết phục, hơn nữa ở thời kỳ giao thời của vạn vật từ hạt sang nảy mầm là hợp với lẽ tự nhiên, ngoài ra từ trường sinh đến đế vượng là giai đoạn vạn vật lớn mạnh dần. Vì vậy nếu đó là quan đái, lâm quan, đế vượng là giai đoạn hưng vượng dần lên.

Người xưa đối với thiên can phân thành âm dương , còn khi nói về ngũ hành thì không chia thành âm dương mà chỉ chia thành thuận, nghịch và phân , hợp. Điều đó là hợp với lẽ tự nhiên và rất kỳ diệu. Qua thực tiễn kiểm nghiệm ta thấy cho dù là dương can tính xuôi, âm can tính ngược hay mộc dục là đất sinh vượng của can ngày đều chứng tỏ là chính xác. Độc giả có thể tự kiểm nghiệm.

Ghi nhớ mười can phối hợp với sự vượng suy của mười hai cung là vô cùng quan trọng. Trong dự đoán, bất kỳ lúc nào cũng phải dùng đến nó. Cách nhớ là dựa vào hình bàn tay. Nếu can ngày sinh thuộc một trong năm can dương thì can ngày sinh bắt đầu từtrường sinh đếm thuận theo thứ tự: trường sinh, mộc dục, quan đái, lâm quan,….. mộ, tuyệt ; còn can ngày sinh là can âm thì bắt đầu từ can ngày sinh là trường sinh đếm ngược lên.

Như vậy chỉ cần nhớ được năm can dương là: giáp , bính, mậu, canh, nhâm ứng với trường sinh của chính của chúng là hợi, dần, tị, thân đếm thuận theo vòng tay đến tháng muốn biết là sẽ được nơ ở vào cung nào ; đối với trường sinh của năm can âm: ất, đinh, tị, tân, quí ứng với ngọ, dậu, tí, mão, đếm ngược mười hai cung đến tháng muốn biết thì sẽ biết được nó ở vào cung nào.